Translate/Dịch

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2022

Tân Tổng Bề Trên Tu Hội Thánh Ý Chúa


Vào Chúa Nhật ngày 24 tháng 7 năm 2022, Đức Tổng Giám Mục Francisco Ozoria Acosta đã chủ tế thánh lễ khai mạc Tổng Tu Nghị Tu Hội Voluntas Dei được tổ chức tại Tổng Giáo Phận Maria de la Altagracia (Cộng hòa Dominica). Tổng Tu Nghị kéo dài đến ngày 5 tháng 8 năm 2022.

Tham dự Tổng Tu Nghị có 46 nghị viên đến từ 22 quốc gia, gồm Canada, Mỹ, Ấn Độ, Sri-Lanka, Cộng hòa Dominica, Colombia, Haiti, Cuba…trong đó ba phần tư là linh mục.

Tổng Tu Nghị đã bầu chọn Tổng Bề Trên và Hội Đồng Cố Vấn với kết quả như sau:
  • Tổng Bề Trên (Director General): Cha Marc-André LAFRENIÈRE
  • Phụ Tá (Assistant Director): Cha Yves-Gérald RICHEMOND

Thành viên Hội Đồng Cố Vấn:
  • Manuel LIZANA LIZANA
  • Vicente SANCHEZ BURGOS
  • Michael DEVIN COONGHE
  • Anthony CIORRA
  • Mr Jacques THÉBERGE
  • Mr. Paul LANG
  • Mrs. Eileen LANG

Kết quả bầu cử này có hiệu lực từ ngày 03 tháng 8 năm 2022 với nhiệm kỳ 6 năm.

Tổng Tu Nghị được tổ chức 6 năm một lần, và đây là lần đầu tiên được tổ chức ngoài Canada, nơi Tu Hội được thành lập bởi Cha Louis-Marie vào ngày 2 tháng 7 năm 1958.


Nguồn: 

Thứ Tư, 9 tháng 2, 2022

Thư Của Đức Thánh Cha Phanxicô Gởi Cho Chủ Tịch Hội Nghị Thế Giới Các Tu Hội Đời Nhân Dịp Kỷ Niệm 75 Năm Tông Hiến Provida Mater Ecclesia

 


Gởi chị Jolanta Szpilarewicz

Chủ tịch Hội nghị thế giới các Tu hội đời

nhân dịp kỷ niệm 75 năm Tông hiến Provida Mater Ecclesia

Hôm nay đánh dấu kỷ niệm 75 năm công bố Tông hiến Provida Mater Ecclesia, trong đó vị tiền nhiệm của tôi là Đức Piô XII đã công nhận hình thức chứng tá mà, đặc biệt từ những thập niên đầu tiên của thế kỷ vừa qua, đã lan rộng nơi người Công giáo giáo dân tận tâm đặc biệt.

Một năm sau, vào ngày 12/3/1948, với Tự sắc Primo Feliciter, cũng chính vị Giáo hoàng này đã thêm một chìa khóa giải thích quan trọng : đối với Tông hiến Provida Mater, trình bày chị em chỉ là « Tu hội », thì Tự sắc đã thêm rằng căn tính đặc thù của đặc sủng của chị em đến từ bản chất giữa đời của chị em, được định nghĩa là « lý do hiện hữu » của chính các Tu hội (xem Primo Feliciter, số 5). Điều này đã mang lại tính hợp pháp trọn vẹn cho hình thức ơn gọi thánh hiến giữa đời này. Như tôi đã có cơ hội nói với chị em cách đây 5 năm, tôi vẫn nghĩ rằng văn kiện này đã « có tính cách mạng theo một nghĩa nào đó » (Sứ điệp gởi cho các tham dự viên ở Hội nghị các Tu hội đời ở Ý, ngày 23/10/2017).

Chị thân mến, dường như hơn 75 năm đã trôi qua kể từ Provida Mater, nếu chúng ta nhìn vào những biến chuyển đã xảy ra trong Giáo hội và sự phát triển của nhiều phong trào và cộng đoàn trong Giáo hội với những đặc sủng tương tự của chị em. Bây giờ tôi biết rằng chị em đang hoàn toàn tham gia chuẩn bị cho Đại hội tiếp đến, sẽ được tổ chức và tháng Tám và công việc của nó, nếu Chúa muốn, tôi sẽ vui mừng đến bế mạc. Nhưng giờ đây tôi muốn cảm ơn chị em vì sự phục vụ và chứng tá của chị em. Tôi muốn mời chị em, đặc biệt trong những tháng sắp đến, hãy cầu xin Chúa Thánh Thần cách đặc biệt để Ngài có thể canh tân nơi mỗi thành viên của các Tu hội đời sức mạnh sáng tạo và ngôn sứ vốn đã biến họ thành một món quà lớn lao như thế cho Giáo hội trước và sau Công đồng Vatican II.

Một thách thức lớn liên quan đến mối tương quan giữa tính thế tục và sự thánh hiến, những khía cạnh mà chị em được mời gọi để giữ cùng nhau. Thật vậy, vì sự thánh hiến của chị em, nó dễ dàng đồng hóa chị em với tu sĩ, nhưng tôi muốn ơn ngôn sứ ban đầu của chị em, đặc biệt là đặc tính phép Rửa vốn đánh dấu các tu hội đời giáo dân, là nét đặc trưng của chị em. Các thành viên của các tu hội đời thân mến, hãy để cho ước muốn sống « thánh giữa đời » truyền cảm hứng cho mình, bởi vì chị em là một cơ chế giáo dân. Chị em là một trong những đặc sủng lâu đời nhất và Giáo hội luôn cần đến chị em. Nhưng sự thánh hiến của chị em không được lẫn lộn với đời sống tu dòng. Chính phép Rửa là hình thức thánh hiến đầu tiên và triệt để nhất.

Trong tiếng Hy Lạp cổ của Giáo hội, người ta thường gọi người tín hữu đã được rửa tội là « các thánh ». Cả thuật ngữ Hy Lạp « hagios » và thuật ngữ Latinh « sanctussi » đều không quy chiếu quá nhiều đến những gì « tốt lành », nhưng là « những gì thuộc về Thiên Chúa ». Chính theo nghĩa này mà thánh Phaolô nói về các Kitô hữu Côrintô là « hagioi » (« các thánh »), bất chấp sự hỗn độn và xung đột của họ, để chỉ ra không phải hình thức hoàn thiện nhân loại nào đó, nhưng là việc họ thuộc về Chúa Kitô. Bây giờ, nhờ bí tích Rửa tội chúng ta thuộc về Người. Chúng ta có nền tảng trong sự hiệp thông mãi mãi với Thiên Chúa và với nhau. Sự kết hiệp bất khả đảo ngược này là gốc rễ của mọi sự thánh thiện, và nó cũng là sức mạnh, đến lượt nó, có thể tách chúng ta ra khỏi sự trần tục. Vì thế, bí tích Rửa tội là nguồn mạch của mọi hình thức thánh hiến.

Mặt khác, lời khấn của chị em là dấu ấn của sự cam kết của chị em với Nước Trời. Chính sự dâng hiến trọn vẹn này cho Nước Trời cho phép chị em biểu lộ ơn gọi nguyên thủy của thế giới, biểu lộ sự hiện hữu phục vụ của chị em đối với con đường thánh hóa nhân loại. Bản chất đặc thù của đặc sủng của các Tu hội đời đòi hỏi chị em phải triệt để và đồng thời tự do và sáng tạo, để lãnh nhận từ Chúa Thánh Thần cách thích hợp nhất để sống chứng tá Kitô hữu của chị em. Chị em là những tu hội, nhưng không bao giờ được thể chế hóa!

Sống giữa đời, nét phân biệt của chị em, chỉ ra một cách thức Tin Mừng cụ thể để hiện diện trong Giáo hội và trong thế giới: như hạt giống, như men. Đôi khi từ « ẩn danh » đã được dùng để chỉ các thành viên của các Tu hội đời. Tôi thích nói rằng chị em được ẩn giấu trong thực tại, giống như hạt giống trong đất và men trong bột. Và chị em không thể nói rằng hạt giống hay men là ẩn danh. Hạt giống là tiền đề của sự sống, men là nguyên liệu cần thiết cho bánh có mùi thơm. Vì thế, tôi mời gọi chị em đào sâu ý nghĩa và cách thức hiện diện của chị em trong thế giới và canh tân, trong sự thánh hiến của chị em, vẻ đẹp và ước muốn tham dự vào việc biến đổi thực tại.

Có một bước mới cần được thực hiện. Ban đầu chị em đã chọn « đi ra khỏi phòng thánh » để mang Chúa Giêsu vào thế giới. Ngày nay, chuyển động đi ra phải được bổ sung bằng một cam kết làm cho thế giới hiện diện (không phải tính trần tục!) trong Giáo hội. Nhiều vấn đề hiện sinh đã đến muộn trên bàn làm việc của các Giám mục và thần học gia. Chị em đã kinh qua nhiều thay đổi tiến triển. Nhưng kinh nghiệm của chị em vẫn chưa làm giàu đủ cho Giáo hội. Chuyển động của ơn ngôn sứ đang thách đố chị em hôm nay là bước tiếp đến sau khi chị em sinh ra. Điều này không có nghĩa trở lại phòng thánh, nhưng là « những ăng-ten thu nhận, truyền tải thông điệp ». Tôi vui mừng nhắc lại : « Chị em giống như những chiếc ăng-ten sẵn sàng đón nhận những đổi mới nhỏ nhất do Chúa Thánh Thần thúc đẩy, và chị em có thể giúp cộng đoàn Giáo hội đảm nhận ánh mắt của lòng nhân từ này và tìm thấy những cách thức mới và dũng cảm để tiếp cận tất cả mọi người » (Diễn văn cho Hội nghị của các Tu hội đời ở Ý, 10/5/2014).

Trong Thông điệp Fratelli Tutti, tôi đã nhắc lại rằng sự suy thoái xã hội và sinh thái mà thế giới hôm nay đang tiến tới (x. chương 1) cũng là hậu quả của một cách sống đạo không đúng đắn (x. chương 2). Đó là những gì Chúa đã nhấn mạnh qua dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu, trong đó Người không tố giác sự gian ác của bọn cướp và của thế gian, nhưng là một não trạng tôn giáo khép kín và tự quy chiếu nào đó, kỳ quái và dửng dưng. Tôi nghĩ đến chị em như là phương thuốc cho điều này. Sống thánh hiến giữa đời là một dấu chỉ ngôn sứ thúc bách chúng ta cho thấy tình yêu của Chúa Cha bằng cuộc sống của chúng ta hơn là bằng lời nói, cho thấy nó hằng ngày trên các nẻo đường của thế giới. Ngày nay không có nhiều thời gian cho những bài diễn văn thuyết phục và thu phục lòng tin; trên hết, đó là thời gian để làm chứng bởi vì, trong khi hộ giáo gây chia rẽ, thì vẻ đẹp của cuộc sống lại thu hút. Hãy là những chứng nhân thu hút!

Sống thánh hiến giữa đời được mời gọi đưa ra thực hành các hình ảnh men và muối trong Tin Mừng. Hãy là men của chân, thiện, mỹ, làm dậy men hiệp thông với anh chị em xung quanh mình, bởi vì chỉ qua tình huynh đệ mà virút của chủ nghĩa cá nhân mới có thể bị đánh bại (x. Fratelli Tutti, số 105). Và hãy là muối mang lại hương vị, bởi vì không có hương vị, lòng ao ước và ngạc nhiên, thì cuộc sống vẫn vô vị và các sáng kiến vẫn vô ích. Nó sẽ giúp chị em nhớ lại làm thế nào sự gần gũi và thân thiết là những cách thức của tính khả tín của chị em, và làm thế nào sự chuyên môn đã mang lại cho chị em « uy tín của Tin Mừng » trong môi trường làm việc.

Chị thân mến, chị em đã nhận được ân huệ là ơn ngôn sứ vốn « đã báo trước » Công đồng Vatican II, một Công đồng đã chào đón sự phong phú của kinh nghiệm của chị em. Thánh Phaolô VI đã nói: « Chị em là một cánh tiên phong của Giáo hội trên thế giới » (Diễn văn cho Hội nghị quốc tế của các nhà lãnh đạo của các Tu hội đời, ngày 20/9/1972). Hôm nay, tôi xin chị em canh tân tinh thần báo trước hành trình của Giáo hội này, để trở thành những người lính canh nhìn lên cao và nhìn về phía trước, với Lời Chúa trong tâm hồn và tình yêu đối với anh chị em trong tay của mình. Chị em ở trong thế giới để làm chứng rằng nó được Thiên Chúa yêu thương và chúc lành. Chị em được thánh hiến cho thế giới, nơi đang chờ đợi chị em làm chứng cho một sự tự do mang lại niềm vui, nuôi dưỡng hy vọng, chuẩn bị tương lai. Tôi cảm ơn chị em về điều này và tôi hết lòng chúc lành cho chị em, xin chị em tiếp tục cầu nguyện cho tôi.

Rôma, Đền Thờ thánh Gioan Latêranô, ngày 2 tháng 2 năm 2022.

PHANXICÔ

——————————————

Tý Linh chuyển ngữ

Nguồn: https://xuanbichvietnam.net/trangchu/thu-cua-duc-thanh-cha-phanxico-goi-cho-chu-tich-hoi-nghi-the-gioi-cac-tu-hoi-doi-nhan-dip-ky-niem-75-nam-tong-hien-provida-mater-ecclesia-di-ra-khoi-phong-thanh-va-lam-cho-the/

 

Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi các tu hội đời đưa thế giới đến với Giáo hội

Trong sứ điệp nhân kỷ niệm 75 năm Đức Piô XII ban hành Tông hiến Provida Mater Ecclesia - Mẹ Quan phòng của Giáo hội, Đức Thánh Cha đề cao vai trò quan trọng của các Tu hội đời trong Giáo hội và xã hội và mời gọi họ đưa thế giới đến với Giáo hội.

Ngày 2/2/1947, Đức Piô XII đã ban hành Tông hiến Provida Mater Ecclesia, trong đó ngài nhìn nhận các Tu hội đời như là một hình thức thánh hiến chính thức mới trong Giáo hội Công giáo.

Các Tu hội đời là những tu hội mà các thành viên cố gắng đạt đến sự hoàn thiện Ki-tô giáo qua việc sống 3 lời khuyên Phúc Âm - khó nghèo, khiết tịnh và vâng lời - và thực hiện công việc của Giáo hội khi “sống giữa thế giới”. Họ không buộc khấn công khai, mặc tu phục riêng và sống chung trong cộng đoàn.

"Đặc tính đời"

Trong sứ điệp gửi đến bà Jolanta Szpilarewicz, Chủ tịch Hội nghị Thế giới của các Tu hội đời, Đức Thánh Cha nhắc lại rằng bản sắc cụ thể của đặc sủng của anh chị em đến từ “đặc tính đời”, và khuyến khích các thành viên Tu hội đời giữ gìn bản sắc này và tiếp tục “công việc sáng tạo và ngôn sứ”, điều giúp họ trở thành “một món quà tuyệt vời cho Giáo hội trước và sau Công đồng Vatican II.”

Sứ điệp của Đức Thánh Cha nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp hai chiều kích riêng biệt là “thánh hiến” và “đặc tính đời”, lưu ý rằng đặc tính của các Tu hội đời không được nhầm lẫn với đặc tính của đời sống tu trì. Ngài nhận định: “Anh chị em cần được thúc đẩy bởi ước muốn sống một ‘đặc tính đời thánh thiện’, bởi vì anh chị em là một tổ chức giáo dân,” và nhấn mạnh rằng “chính Bí tích Rửa tội là hình thức thánh hiến đầu tiên và triệt để nhất.” Sự kết hợp với Thiên Chúa không thể xóa bỏ được này là cội nguồn của sự thánh thiện và cũng ban cho chúng ta sức mạnh để tách biệt khỏi ‘tính thế gian’”.

Đưa thế giới đến với Giáo hội

Đức Thánh Cha nói tiếp rằng đặc sủng đặc biệt của các Tu hội đời kêu gọi các thành viên của họ “phải cấp tiến, đồng thời tự do và sáng tạo” trong chứng tá Kitô giáo của họ để trở thành “hạt giống và men nồng”, cả trong Giáo hội và xã hội.

Trong khi lưu ý rằng các Tu hội đời “đã trải qua nhiều thay đổi” và đã đóng một vai trò quan trọng trong việc đưa Giáo hội đến một thế giới luôn thay đổi, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng ngày nay họ cần phải “tiến thêm một bước nữa” để “làm cho thế giới (chứ không phải tính thế gian!) hiện diện trong Giáo hội.”

“Men và muối” của thế giới

Nhắc lại thông điệp Fratelli tutti, Đức Thánh Cha chỉ ra rằng đời sống thánh hiến giữa đời là một “dấu chỉ ngôn sứ” đòi hỏi hành động cụ thể hơn là lời nói, nếu muốn bày tỏ tình yêu của Chúa Cha. Do đó, ngài khuyến khích các Tu hội đời tiếp tục thực hiện lời kêu gọi của Tin Mừng là trở thành “men và muối” của thế giới. (CSR_383_2022)

Hồng Thủy  - Vatican News

Nguồn: https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2022-02/dtc-phanxico-tu-hoi-doi-dua-the-gioi-den-voi-giao-hoi.html

Chủ Nhật, 2 tháng 1, 2022

Tiến Trình Đào Tạo Của Voluntas Dei

 

Tiến trình đào tạo của Voluntas Dei bao gồm năm giai đoạn:

  1. Giai đoạn tìm hiểu (6 tháng đến 2 năm)
  2.  Thỉnh sinh (6 tháng đến 2 năm)
  3. Giai đoạn tập (2 đến 4 năm)
  4. Cam kết tạm (5 đến 7 năm)
  5. Khấn/Cam kết vĩnh viễn 

Sau khi khấn/cam kết vĩnh viễn, mỗi thành viên được mời gọi nhắc lại lời cam kết của mình (sau mỗi 5 đến 7 năm).

Các thành viên cũng có thể lặp lại lời khấn/cam kết ấy trước hoặc sau kỳ hạn một tháng, nhưng phải luôn giữ vào đúng ngày họ đã được cam kết trước đây. 

BBT

Nguồn: https://www.voluntasdei.org/en/voluntas-dei-life/the-formation.html

Thứ Tư, 15 tháng 12, 2021

Các Mốc Lịch Sử Voluntas Dei


Ngày 02/02/1947: Tông hiến Provida Mater Ecclesiae (Mẹ quan phòng của Giáo Hội) do Đức Thánh Cha Piô XII ban hành đã chính thức mở ra một hình thức thánh hiến mới trong Giáo Hội, đó là các Tu Hội Đời.

Kể từ đó, các tu hội đời dành cho nam và nữ đã được phê chuẩn thành lập

Ngày 02 tháng 07 năm 1952, Tu Hội Dâng Truyền (O.M.M.I), một tu hội đời cho nữ, được sáng lập bởi cha Louis-Marie Parent, O.M.I.

Mùa Xuân năm 1958: Cha Leo Deschâtelets, O.M.I. Bề Trên Tổng Quyền của dòng Hiến Sĩ đã đề nghị cha Parent sáng lập một tu hội đời cho nam.

Đáp lại đề nghị của cha Bề Trên Tổng Quyền, cha Parent đã có một linh hứng để gọi nhóm mới này là Voluntas Dei. Ngài đã gặp gỡ một vài thanh niên quan tâm đến dự án và chuẩn bị thành lập Tu Hội.


Ngày 08/05/1958: Voluntas Dei đã nhận được sự chuẩn nhận của Đức Cha Henri Routhier, O.M.I., Đại diện tông tòa của Grouard, Alberta (Canada), và cơ quan thẩm quyền của Giáo Hội đã công nhận là Hiệp Hội Đạo Đức (Pious Society).

Ngày 02 tháng 07 năm 1958: Tu Hội Voluntas Dei (I.V.Dei), một tu hội đời, được thành lập bởi cha Louis-Marie Parent, O.M.I, trong nhà nguyện Lady of Lasalette (Đức Mẹ Lasalette) (Trois-Rivières, Québec, Canada). 


Lúc bấy giờ, Tu Hội có mười tu sĩ, bốn khấn sinh, năm người bắt đầu giai đoạn tập, và một thỉnh sinh.

Ngày 18 tháng 9 năm 1958: I.V.Dei mở rộng ra khắp thế giới, đầu tiên là tại Lào, sau đó tới Mĩ, Bolivia, Ecuador, Sri Lanka, Ấn Độ, Chilê, Mêxicô, Haiti, Cộng hòa Dominican và Colombia.

Năm 1963: Những nam giáo lý viên người Lào (đã kết hôn) được gia nhập Tu Hội.


Ngày 31 tháng 5 năm 1963: Đức cha J.-Romeo Gagnon của Edmundston, New Brunswick (Canada) đã nâng I.V.Dei lên thành Hiệp Hội Hoàn Thiện (Association of Perfection).

Ngày 02 tháng 07 năm 1965: Cũng chính Đức cha J.-Romeo Gagnon đã nâng I.V.Dei thành Tu Hội thuộc giáo phận theo giáo luật, và sau đó đã chứng nhận không có ngăn trở (nihil obstat) cho Thánh Bộ Đời Sống Thánh Hiến Và Các Tu Hội Đời.

Ngày 12 tháng 07 năm 1987: Voluntas Dei được công nhận là Tu Hội Đời thuộc quyền giáo hoàng bởi Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II.


Năm 1988: I.V.Dei chính thức kết nạp một cặp vợ chồng trở thành thành viên liên kết bằng lời cam kết (commitment) dành cho thành viên liên kết.


Ngày 21 tháng 9 năm 1988:
Hiến pháp của Tu Hội được chuẩn nhận

Ngày 17 tháng 07 năm 2007: Rôma đã cho phép Cha Bề Trên Tổng Quyền năng quyền cấp chứng thư giới thiệu các thành viên tiến chức phó tế, linh mục.

Tháng 6 năm 2010: Những thành viên liên kết thiêng liêng được chấp thuận trong Tu Hội

BBT
Nguồn: https://www.voluntasdei.org/en/discover-the-voluntas-dei/history.html

Chủ Nhật, 21 tháng 11, 2021

Sống Theo Đặc Sủng Thánh Ý Chúa

Đặc sủng là một món quà đặc biệt và là ân sủng từ Thiên Chúa, mời gọi các thành viên của một hội dòng hay một tu hội sống đời sống thánh hiến đặc thù của họ. mỗi dòng tu đều có đặc sủng riêng của mình để góp phần với giáo hội vào việc loan báo tin mừng theo cách riêng của họ, để nước Chúa trị đến. Và như vậy, đặc sủng quyết định cho một sứ vụ.

Đặc sủng của Voluntas Dei là:

1.    Sống theo cách của Đức Maria trong biến cố Truyền Tin

2.    Là khí cụ bình an của Đức Kitô thi hành thánh ý Chúa Cha

Trong

3.    Giây phút hiện tại

4.    Ngay giữa lòng thế giới

Tại

5.    Bất cứ nơi nào vương quyền Đức Kitô ngự trị

Mục đích

- Kiến tạo hòa bình trong Đức Giêsu Kitô

- Kiến tạo tình huynh đệ trong Đức Giêsu Kitô

Bằng cách

1.    Sống linh đạo 5-5-5

2.    Đời sống đội (team)

3.    Sống tích cực

4.    Giây phút hiện tại

5.    Tình liên đới Kitô hữu

Đặc sủng của Tu Hội mời gọi các thành viên sống cho đi, như đức Trinh nữ Maria đã làm, cũng như trong sứ vụ của Đức Giêsu, Đấng đã đi vào thế gian để thi hành thánh ý Chúa Cha. Giống như Đức Maria, các thành viên Voluntas Dei làm mới tiếng “xin vâng” của họ hàng ngày trong tinh thần qui phục Thiên Chúa.

Sứ vụ này được thực hiện hàng ngày trong giây phút hiện tại và giữa lòng thế giới. Chính trong các mối quan hệ của con người và trong các hoạt động hàng ngày mà các thành viên của chúng tôi được gọi trở nên khí cụ của Chúa Kitô.

Dù trong hoàn cảnh nào, các thành viên của Tu Hội phải được thúc đẩy bởi tinh thần truyền giáo. Phạm vi hoạt động của các thành viên là những nơi họ phải làm chứng cho tin mừng, nghĩa là bất cứ nơi nào vương quyền Đức Kitô ngự trị. Bằng cách này, các thành viên được mời gọi trở nên người kiến tạo hòa bình, để nếm trải một cuộc sống huynh đệ đích thực, và để khám phá sự liên kết với mọi người họ tiếp xúc.

BBT

Nguồn: https://www.voluntasdei.org/en/voluntas-dei-life/the-charism.html

 

Thứ Ba, 16 tháng 11, 2021

Các Thành Viên Tu Hội Thánh Ý Chúa

Tu Hội Thánh Ý Chúa là một tu hội đời, giáo sĩ. Các thành viên của Tu Hội bao gồm linh mục, phó tế. Tuy nhiên, Tu Hội cũng mở ra cho mọi người, những người muốn tìm kiếm sự hoàn hảo trong cuộc đời Kitô hữu của họ sau khi đã chịu bí tích Thánh Tẩy.

Tu Hội chúng tôi bao gồm:

  • Các linh mục nhập tịch trong Tu Hội
  • Các linh mục của Tu Hội nhưng nhập tịch vào giáo phận (chỉ có tại nước ngoài)
  • Phó tế và ứng sinh linh mục
  • Tu huynh
  • Các cặp vợ chồng đã kết hôn thành sự qua bí tích Hôn Phối
  • Những thành viên liên kết

Đến cuối năm 2016, Tu Hội có 974 thành viên, bao gồm:

  • 1 Giám Mục (Đức Hồng Y Louis Marie Ling – TGM GP Viêng-Chăn, Lào)
  • 218 Linh Mục
  • 8 Phó Tế vĩnh viễn
  • 66 ứng sinh linh mục và phó tế
  • 55 tu huynh
  • 626 hội viên là những người đã kết hôn thành sự qua bí tích Hôn Phối



Hiện nay các thành viên của Tu Hội loan báo Tin Mừng ở 23 quốc gia: 

ÚC, CANADA, CHILÊ, cOLOMBIA, CUBA, CỘNG HÒA DOMINICA, ECUADOR, ANH, PHÁP, ĐỨC, HAITI, ẤN ĐỘ, Ý, KENYA, LÀO, SCOTLAND, SRI LANKA, THỤY SĨ, CỘNG HÒA TRINIDAD VÀ TOBAGO, MĨ, ĐỨC, VIỆT NAM.

BBT

Nguồn: https://www.voluntasdei.org/en/voluntas-dei-life/the-members.html

Chủ Nhật, 14 tháng 11, 2021

Đấng Sáng Lập: Cha Louis-Marie Parent

 

Tên gọi: Henri-Louis Parent

Tên khấn lần đầu: Louis-Marie Parent

Ngày sinh: 12/07/1910, tại Québec City Region (Canada)

Năm nhập dòng: 1931

Cộng đoàn: Dòng Hiến Sĩ Đức Maria Vô Nhiễm (The Missionay Oblates of Mary Immaculate)

Khấn lần đầu: ngày 21 tháng 07 năm 1932

Ngày chịu chức: ngày 12 tháng 05 năm 1937 tại Mont Laurier, giáo phận Québec

Ngày mất: 17 tháng 05 năm 2009 tại Richelieu (Quebec, Cananda)

Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

Tiểu Sử Bề Trên Tổng Quyền

Cha Selvaratnam James Dunstan sinh ngày 25 tháng 7 năm 1970 tại Sillalai, một nơi được biết đến như “Rôma thu nhỏ” tại Jaffna (Sri Lanka). Ngài là con út trong gia đình ba người con. Từ thuở bé ngài đã mong muốn trở thành linh mục. Cha Florentine Rajaratnam, một thành Viên của Tu Hội Thánh Ý Thiên Chúa, là cha xứ khi James được rước lễ lần đầu. Cậu bé James biết đến Tu Hội trong một ngày giới thiệu các chủng viện trong khu vực. Cậu đã rất ấn tượng với điều 5 thứ hai trong Linh Đạo 5-5-5: thái độ nội tâm, và đã gia nhập Tu Hội vào năm 1986, thời điểm mà cha Rajaratnam làm bề trên tại Ấn Độ và Sri Lanka.

Thầy James hoàn tất việc học của ngài tại Chủng Viện Thánh Phanxicô với văn bằng tốt nghiệp triết học. Thầy cũng lấy bằng cử nhân thần học tại Rôma (Italia), và thạc sĩ truyền giáo học tại Ottawa, Canada. Thầy được chịu chức linh mục trong Tu Hội Thánh Ý Thiên Chúa vào ngày 25 tháng 7 năm 1997.

Cha James được biết đến vì sự quý trọng người khác cũng như khả năng mang đến sự bình an và tình bạn hữu. Ngài cũng là một người rộng lượng, luôn sẵn sàng cho bất cứ ai cần ngài. Nhân đức này đã khiến ngài thành một nhà truyền giáo và đã từng bước trở nên người phục vụ trong tư cách bề trên tổng quyền của Tu Hội.

Là một linh mục, ngài đã thi hành chức vụ của ngài trong vài năm tại giáo phận Jaffna và Mannar trong giai đoạn khó khăn của cuộc nội chiến. Sau đó ngài giảng dạy trong các chủng viện của Jaffna và Kandy. Ngài cũng là giám đốc chủng viện và tiểu chủng viện của Tu Hội tại Sri Lanka. Vào năm 2004, vị linh mục trẻ người Sri Lanka này đã được bầu vào hội đồng cố vấn, nhiệm kỳ sáu năm. Sau đó ngài cũng được bầu làm giám đốc vùng Sri Lanka vào năm 2006, một cương vị ngài phục vụ trong hai năm. Năm 2008, Vùng này được công bố tự trị theo hiến pháp của Tu Hội, và Cha James tiếp tục công việc giám đốc vùng của ngài cho đến khi được bầu chọn làm bề trên tổng quyền năm 2010. Tại Tổng Tu Nghị lần thứ 10 của Tu Hội vào tháng 7 năm 2016, ngài đã được tái cử bề trên tổng quyền với nhiệm kỳ sáu năm.

Ngài sống ở tại trụ sở chính của Tu Hội tại Trois-Rivières (Québec). Với sáu năm tiếp theo, định hướng của Cha bề trên tổng quyền James là:

  1. Nên một trong tinh thần của Cha Parent khi sáng lập Tu Hội.
  2. Theo đuổi mục đích tông đồ của tu hội, kiến tạo bầu khí hòa bình và tình liên đới giữa các thành viên.
  3. Nhấn mạnh đến điểm thứ hai của linh đạo đó là thái độ nội tâm để kết nối với định hướng thứ 2 ở trên.
  4. Phát triển Tu Hội qua việc sử dụng công nghệ.
  5. Nâng đỡ thiêng liêng cho các thành viên để giúp họ nhận ra thánh ý Thiên Chúa trong Chúa Thánh Thần, trở nên những người thi hành thánh ý Chúa đích thực trên nền linh đạo này.
BBT

Mục Đích Tông Đồ Của Tu Hội Thánh Ý Chúa

Tu Hội Thánh Ý Chúa nỗ lực hiện diện ở mọi nơi, mục đích tông đồ của Tu Hội là KIẾN TẠO HÒA BÌNH VÀ TÌNH HUYNH ĐỆ TRONG ĐỨC GIÊSU KITÔ. Bằng cách này, Tu Hội chia sẻ sứ mệnh truyền giáo của Giáo Hội đã được Đức Kitô ủy thác, để biểu lộ và truyền tải tình yêu Thiên Chúa đến cho mọi người thuộc mọi quốc gia.

Đây là trọng tâm của mục đích truyền giáo. Chiều kích truyền giáo là nhiệm vụ cơ bản của Tu Hội và là một thành phần không thể thiếu của đặc sủng để sáng lập Tu Hội.

Mục đích này đòi buộc mọi thành viên phải sống tình huynh đệ chân thành. Với ý hướng của mục đích này, các thành viên được khuyến khích tìm kiếm tinh thần hiệp thông với mọi người trong Đức Kitô, đặc biệt là những người đau khổ nhất và những người bé nhỏ nhất, và ra sức xây dựng một thế giới yêu thương hơn.

Để thiết lập và phát triển tinh thần hòa bình và huynh đệ, cũng như để làm việc cách hiệu quả hơn trong sứ mệnh này, các thành viên Tu Hội Thánh Ý Chúa kết hợp cùng nhau trong một đội (team) và truyền bá tinh thần đội như là cách chia sẻ công việc tông đồ của Tu Hội.

BBT

Nguồn: Hiến Pháp, chương III.


Đức Hồng Y Louis-Marie Ling Và Cha Bề Trên Tổng Quyền Tu Hội Voluntas Dei viếng thăm

 Đức Hồng Y Louis-Marie Ling (Tổng Giám Mục giáo phận Viêng Chăn - Lào) và cha Tổng Bề Trên Tu Hội Voluntas Dei viếng thăm Tu Hội tại Việt Nam năm 2020.                          


Chào thăm Đức Cha Giuse Nguyễn Năng - Tổng Giám Mục GP. Sài Gòn và cha Giuse Maria Trần Hòa Hưng - Đại Diện Giám Mục Đặc Trách Tu Sỹ GP. Sài Gòn




BBT








Thứ Tư, 10 tháng 11, 2021

Giải Thích Bộ Giáo Luật Năm 1983 Của Hội Thánh Công Giáo Về Các Tu Hội Đời

Tác giả: Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP.


A. KHÁI NIỆM

Các Tu Hội Đời đã nhận được qui chế trong Giáo Hội do Hiến chế tông tòa “Provida Mater Ecclesiae” của Đức Giáo Hoàng Piô XII, ngày 02-02-1947. Một năm sau, trong Tự sắc “Primo Feliciter Anno”, Đức Giáo Hoàng nói lên lòng cảm tạ Chúa khi thấy “đông đảo nhiều tâm hồn ẩn náu với Chúa Kitô trong Thiên Chúa sống trong thế gian đang sẵn sàng và quảng đại hướng tới sự thánh thiện và vui vẻ hiến dâng cả cuộc đời cho Thiên Chúa trong Tu Hội Đời” (13-02-1948).

Các Tu Hội Đời đã nhận được một luật riêng và Thánh bộ các dòng tu đã được ủy cho việc soạn thảo những luật lệ cần thiết. Vì được coi là một hình thức sống tận hiến đặc biệt thích hợp cho thời đại chúng ta, nên loại Tu Hội Đời này đã có một chỗ đứng trong pháp chế mới của Giáo Hội.

Các Tu Hội Đời cũng thuộc quyền Thánh bộ Rôma như các Tu Hội Tận Hiến. Từ khi có Hiến chế “Regimini Ecclesiae” ngày 15-08-1967, Thánh bộ này gọi là “Thánh Bộ Cho Các Tu Sĩ Và Các Tu Hội Đời” (S.C.R.I.S.).

Có tất cả 20 điều luật đã thích nghi các qui tắc chung của đời sống tu trì vào các Tu Hội Đời.

Pháp chế về các Tu Hội Đời trong bộ Giáo luật có thể nói là một trong những biến cố quan trọng nhất và ý nghĩa nhất. Đây là sự hòa hợp sâu xa giữa đoàn sủng của các Tu Hội Đời và chỉ thị quan trọng nhất của Công Đồng: sự hiện diện của Giáo Hội trong thế giớ. Thật vậy, đời sống thánh hiến của Tu Hội Đời là sự thánh hiến của cuộc sống trần tục, một sự hiệp nhất chặt chẽ và chủ yếu của cuộc sống trần gian và cuộc sống thánh hiến. Với việc tuyên khấn các lời khuyên Phúc Âm, các Tu Hội Đời có sứ mạng vượt qua tính nhị nguyên giữa Giáo Hội và thế gian, và trở thành điển hình của Phúc Âm và của Giáo Hội giữa lòng thế giới.

Sự đồng nghĩa giữa đời sống thánh hiến và đời sống tu hành đã bị phá vỡ bởi việc ban hành Tông hiến “Provida Mater Ecclesiae” ngày 02-02-1947. Văn kiện này đã chính thức hóa một hình thức đời sống thánh hiến ở giữa thế gian. Trong những năm sau đó, hơn 130 Tu Hội Đời đã được thành lập theo Giáo luật, và có chừng 600.000 người đã được thánh hiến theo tiếng Chúa gọi trong các Tu Hội Đời này, để đưa Phúc Âm vào lòng thế giới. Tuy nhiên, hình thức đời sống thánh hiến này vẫn chưa được người ta hiểu đúng, cả trong giới các tu sĩ và giáo sĩ. Nhiều người coi các người thánh hiến này là “một thứ người đời giả tạo”, những người khác lại coi đây là những tu sĩ có bản chất hàm hồ, không rõ, những tu sĩ trá hình làm người đời. Sự thật thì khác hẳn: đây là một đoàn sủng riêng biệt, một hồng ân Chúa Thánh Thần ban cho Giáo Hội để cải tạo thế giới từ bên trong thế giới và để thế giới được thấm nhuần tinh thần Phúc Âm.

Sự việc các Tu Hội Đời bước vào bộ Giáo luật là một niềm vui cho mọi người:

– Đối với các Tu Hội Đời, vì nay hình thức thánh hiến này có chỗ đứng trong thần học, trong Giáo luật và trong sinh hoạt của Hội Thánh.

– Đối với các tu sĩ, các Tu Hội Đời là một yếu tố quan trọng đặc biệt, giúp vượt qua cuộc khủng hoảng về căn cước thường xảy ra những năm gần đây: sự khủng hoảng này đã do sự kiện các tu sĩ muốn vay mượn những nét của “đời sống thánh hiến ngoài đời”, vì muốn có sự “nhập thế” thực sự hơn, nhưng do đấy mà nhiều Tu Hội Dòng đã đi quá giới hạn mà sự thánh hiến tu hành cho phép.

– Đối với các giáo dân, vì thấy rõ hơn chứng từ và niềm khuyến khích mà các thành viên của các Tu Hội Đời mang lại cho họ, do cách sống Phúc Âm ở giữa trần gian, trong những hoàn cảnh và tình trạng giống như họ.

B. LỊCH SỬ

Về khía cạnh lịch sử, có thể tóm lại như sau:

– Vào thế kỷ XVI, thánh nữ Angela de Merici đã muốn qui tụ một số thiếu nữ thành “nhóm thánh Ursula”, khấn khiết tịnh, chuyên vào việc giáo dục, và mang áo dòng. Dự án ấy quá táo bạo đối với tâm trạng thời đó, và chẳng bao lâu các cô phải mặc áo dòng và trở thành nữ tu dòng kín.

– Đến thế kỷ XVIII, khi cuộc cách mạng Pháp giải tán các dòng tu, cha Pierre Joseph Picot de Clorivière S.J. đã lập ra hai tổ chức tu chui, một dành cho các linh mục và nam giới (Hội các linh mục Thánh Tâm Chúa Giêsu) và một cho nữ giới (Hội con cái trái tim Đức Mẹ): cả hai theo đuổi đời sống tận hiến nhưng không sống cộng đoàn chung.

– Cho tới thế kỷ XIX, đứng trước tình hình của các xã hội Âu châu bị tục hóa, nhiều tổ chức đã ra đời với mục tiêu nhằm đưa men Phúc Âm vào giữa những môi trường đời: gồm bởi những người tận hiến cho Chúa qua lời khấn, nhưng không có tu phục và đời sống chung. Vài nhân vật tên tuổi: cha Jean Joseph Allemand ở Marseille, Pháp; chân phước Caterina Volpicelli ở Napoli, Ý.

– Năm 1900, qua Tông hiến “Condidate a Christo”, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII tuyên bố các hội dòng với lời khấn đơn cũng được nhìn nhận là dòng tu, thì các Tu Hội Đời chưa được Giáo Hội để ý tới, xét vì họ không có lời khấn công, không có tu phục, không có đời sống chung. Tình trạng ấy vẫn còn tiếp tục khi bộ Giáo luật 1917 ra đời.

– Đến năm 1941, Đức Giáo Hoàng Piô XII mới quyết định thiết lập một Ủy Ban Liên Bộ trong giáo triều để cứu xét vấn đề. Sau khi đã nhận được ý kiến thuận của Ủy Ban, ngài đã ban hành Tông hiến “Provida Mater Ecclesiae” (02-02-1947), chấp nhận các Tu Hội Đời như một hình thức của bậc trọn lành trong Giáo Hội. Tông hiến này được coi là “đại hiến chương” của Tu Hội Đời.

– Một năm sau, Tòa Thánh ban hành hai văn kiện: Tự sắc “Primo Feliciter Anno” của Đức Giáo Hoàng Piô XII (13-02-1948) và Huấn thị “Cum Sanctissimus” của Bộ tu sĩ (19-03-1948), nhằm để bổ túc thêm cho Tông hiến “Provida Mater Ecclesiae”.

– Công Đồng Vatican II bàn tới các Tu Hội Đời trong Sắc lệnh Đức ái trọn hảo.

– Sau Công Đồng Vatican II, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã tiếp tục giải thích thêm bản chất của các Tu Hội Đời qua những bài diễn văn đọc khi tiếp đại hội các Tu Hội Đời trên thế giới vào năm 1970, 1972, 1976; và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vào năm 1980. Ngoài ra, Bộ Tu sĩ cũng ra nhiều văn kiện dành riêng cho Tu Hội Đời, thí dụ về bản chất thần học và pháp lý của Tu Hội Đời, về sự tham gia của những người đã có đôi bạn vào sinh hoạt của các Tu Hội Đời (1976), về vấn đề huấn luyện (1980), về bản chất của các mối dây cam kết (1981). Sau khi ban hành bộ Giáo luật 1983, Bộ Tu sĩ đã gửi một lá thư tới các Giám mục trên thế giới (06-01-1984) để giúp cho các ngài có một khái niệm về Tu Hội Đời.

Bộ Giáo luật 1983 đã dành riêng những điều từ 710-730 cho Tu Hội Đời, cùng với những điều 573-606 chung cho hết các Hội Dòng Tận Hiến. Phải nhìn nhận rằng, các Tu Hội Đời rất đa dạng về cách sinh sống; bởi thế, bộ Giáo luật chỉ ra vài nguyên tắc rất tổng quát, ngõ hầu mỗi Tu Hội có thể dễ dàng thích nghi với chủ trương riêng của mình.

I. Định Nghĩa

Điều 710 cho ta định nghĩa: Tu Hội Đời là một Tu Hội Tận Hiến, sống giữa đời, cố gắng đạt tới đức ái hoàn hảo và ra sức góp phần thánh hóa thế giới, nhất là từ bên trong.

Qua định nghĩa ấy, ta thấy có nhiều điều cần lưu ý:

– Cũng hệt như các Tu Hội Dòng, là những pháp nhân tập thể (đ. 114-116), được Giáo Hoàng thành lập, tuyên khấn các lời khuyên Phúc Âm để đạt tới mức trọn lành của đức ái bằng cách dấn thân phục vụ nước Chúa và lo cho ơn cứu độ của thế giới (đ. 573). Nhưng khác nhau: trong các Tu Hội Dòng, đời sống thánh hiến được đảm nhận bằng các lời khấn công và thể hiện bằng cuộc sống huynh đệ chung (đ. 607§2) và cách biệt đối với thế tục (đ. 607§3). Còn trong các Tu Hội Đời, đời sống thánh hiến được thực hiện không có lời khấn công (đ. 712), để sống giữa thế gian, và không buộc phải có đời sống chung với nhau (đ. 714).

Điều luật này nêu lên một số yếu tố chung cho bất cứ cuộc sống thánh hiến nào, và yếu tố riêng của các Tu Hội Đời. Các yếu tố chung là sự thánh hiến – hướng tới mức trọn lành của đức ái – và thánh hóa thế gian. Hai yếu tố sau cùng là mục tiêu mà sự thánh hiến phải hướng tới như hậu quả tất nhiên của mình. Yếu tố riêng biệt và chủ yếu của Tu Hội Đời là sống giữa thế gian để thánh hóa thế gian từ bên trong.

Vì tuyên khấn 3 lời khuyên Phúc Âm, nghĩa là gồm cả sự khiết tịnh trọn hảo, nên không thể thâu nhận những người đã lập gia đình.

II. Thiết Lập

Giống như các Tu Hội Dòng (đ. 579,589), các Tu Hội Đời có thể được thiết lập do Giám mục sau khi tham khảo ý kiến của Tòa Thánh (nếu thuộc luật giáo phận) hay do Tòa Thánh (nếu là Tu Hội thuộc luật Giáo hoàng). Sự thiết lập bao hàm việc phê chuẩn hiến pháp.

Tu Hội Đời cũng được phân loại thành giáo sĩ và giáo dân (đ. 588). Tuy nhiên, các thành viên giáo sĩ của các Tu Hội Đời thì được nhập tịch vào giáo phận chứ không phải vào Tu Hội, ngoại trừ khi có đặc ân của Tòa Thánh (đ. 266§3: đặc biệt đối với những người có trách nhiệm điều khiển Tu Hội). Việc tiến cử để lãnh chức thánh cũng tùy thuộc vào Giám mục giáo phận chứ không thuộc về ban lãnh đạo của Tu Hội (đ. 1019§2). Qui chế của các phần tử giáo sĩ được ấn định ở điều 715.

III. Vị Trí (Bậc Sống Của Thành Viên Trong Giáo Hội)

– Điều 711: thành viên của Tu Hội Đời do sự thánh hiến, không thay đổi địa vị Giáo luật của riêng mình trong dân Thiên Chúa, dù là giáo dân hay giáo sĩ, giữ nguyên những qui định của điều luật liên quan đến các Tu Hội Tận Hiến.

Theo luật của Thiên Chúa, có hai bậc sống căn bản trong Giáo Hội: bậc giáo sĩ và bậc giáo dân. Các tín hữu của cả hai bậc sống này đều có thể chọn đời sống thánh hiến, vì điều này không thuộc về cấu trúc phẩm trật của Giáo Hội (đ. 207).

Khi các tín hữu khấn dòng, họ hết là người đời để trở thành các tu sĩ, giáo sĩ hoặc giáo dân. Trái lại, khi các tín hữu tuyên khấn trong một Tu Hội Đời, họ bước vào đời sống thánh hiến, nhưng không thay đổi bậc sống “ở đời” của họ, dù họ là giáo sĩ hoặc giáo dân, trong khi họ sẽ phải sống như những người được thánh hiến ở giữa thế gian. Đó là đặc tính “đời” của các Tu Hội này. Cho nên sẽ có hai loại Tu Hội Đời: các Tu Hội Đời giáo dân và các Tu Hội Đời giáo sĩ (đ. 713).

IV. Những Ràng Buộc Thánh (Lời Khấn) (đ. 712)

Hiến pháp của Tu Hội phải ấn định rõ những ràng buộc trong việc tuân giữ các lời khuyên Phúc Âm, những ràng buộc này phải được phê chuẩn hoặc được thừa nhận bởi Giáo Hội.

Đây không phải là những cam kết riêng tư, chỉ buộc lương tâm, nhưng đây là những ràng buộc có tính pháp lý của một Tu Hội do Giáo Hội thành lập, có hiệu lực ở tòa ngoài và sự chuẩn chước được dành cho thẩm quyền của Giáo Hội. Các ràng buộc này có thể có nhiều hình thức khác nhau: lời thề, lời hứa, sự thánh hiến, lời khấn. Nhưng không thể là lời khấn công, vì như thế sẽ là lời khấn dòng. Đồng thời cũng không thể là lời khấn tư chỉ buộc lương tâm.

Hiến pháp cũng phải xác định những nghĩa vụ sinh ra do các ràng buộc này đối với Tu Hội cũng như đối với các thành viên. Sau cùng, phải tránh tất cả những gì giống như lối sống của các Tu Hội Dòng.

V. Các Hoạt Động Tông Đồ (đ. 713)

Tất cả cuộc sống của mọi thành viên các Tu Hội Đời phải hướng về việc tông đồ, nhưng hoạt động tông đồ của họ sẽ mang những sắc thái riêng biệt, tùy là thành viên giáo dân (§2) hay giáo sĩ (§3).

Các Tu Hội Đời có thể là Tu Hội giáo dân, giáo sĩ, hoặc hỗn hợp vừa giáo dân vừa giáo sĩ, mỗi thành viên sẽ hoạt động theo bậc sống của mình.

VI. Sinh Hoạt Của Các Thành Viên

1. Cách thức sinh sống

Những người thánh hiến ở giữa đời có thể sống nhiều cách khác nhau, từ cuộc sống đơn độc với nghề nghiệp của mình, đến cuộc sống tấp thể, với những hoạt động cá nhân hoặc tập thể, nhưng vẫn giữ được các nét của cuộc sống “ở đời”. Tức là có thể sống một mình ở tư gia, hay từng nhóm (đ. 714).

Các thành viên phải sống theo hiến pháp trong các điều kiện thông thường ở đời, một mình hoặc mỗi người trong gia đình mình, hoặc trong một nhóm huynh đệ.

Tuy nhiên, những nhà mà các nhóm này sống với nhau không phải là những “nhà dòng”. Bởi vậy không có sự thành lập theo Giáo luật, không có nội cấm, không buộc phải có bề trên nhà, và cũng không có quyền để Mình Thánh Chúa.

Các Tu Hội Đời là những cộng đồng, các thành viên cộng đồng không buộc “sống chung”, nhưng phải giữ sự hiệp thông trong sự hiệp nhất tinh thần và bác ái huynh đệ, bằng cách tích cực tham gia vào sinh hoạt của Tu Hội mình (đ. 716).

Đối với các giáo sĩ đã nhập giáo phận, thì phục quyền Giám mục giáo phận. Còn những ai đã nhập tịch Tu Hội, nếu được chỉ định thi hành những công tác riêng của Tu Hội, hoặc điều khiển Tu Hội, thì thuộc quyền Giám mục như các tu sĩ (đ. 715).

2. Việc quản trị (đ. 717)

Hiến pháp phải qui định hình thức cai trị của Tu Hội, xác định nhiệm kỳ của những người lãnh đạo và cách thức chỉ định vào chức vụ. Luật chung chỉ đòi hỏi vị lãnh đạo tối cao phải là người đã gia nhập vĩnh viễn vào Tu Hội (đ. 171§2). Một trách nhiệm quan yếu của cấp lãnh đạo là lo duy trì tinh thần hợp nhất và cỗ võ sự tham gia tích cực của mọi phần tử. Chúng ta nên biết là về cơ quan quản trị, bộ Giáo luật đã dùng từ ngữ khác với từ ngữ dành cho các dòng tu: “người lãnh đạo” (moderator) thay vì “bề trên” (superior).

3. Việc quản trị tài sản (đ. 718)

Ngoài những điều luật về tài sản của Giáo Hội trong quyển V, luật riêng còn phải xác định thêm về những nghĩa vụ của Tu Hội đối với những phần tử làm việc cho Tu Hội (nên lưu ý là các phần tử của Tu Hội Đời không buộc phải khước từ quyền sở hữu và quản trị tư sản như các tu sĩ, như vậy vấn đề tài sản chung được đặt ra không giống các dòng tu).

4. Đời sống thiêng liêng (đ. 719)

Nhằm hỗ trợ cho sự kết hợp với Đức Kitô, nguồn gốc của mọi hoạt động tông đồ. Vài phương thế chính yếu: cầu nguyện, đọc Sách Thánh, cử hành Thánh Thể (hằng ngày nếu được), bí tích Thống hối, linh hướng, tĩnh tâm thường niên,…

VII. Thâu Nhận Và Đào Tạo Các Thành Viên

Những qui định của bộ Giáo luật cũng rất tổng quát và dành việc xác định cho hiến pháp của mỗi Tu Hội. Sau đây là những qui tắc của luật chung: quyền nhận vào Tu Hội, vào thử để dấn thân bằng những ràng buộc thánh, tạm hay trọn đời, thuộc về bề trên cao cấp với ban cố vấn, chiếu theo hiến pháp (đ. 720).

1. Thâu nhận

Nhận những người sau đây vào kỳ thử là bất thành:

a/. Chưa tới tuổi trưởng thành.

b/. Người còn mắc lời khấn trong một Tu Hội Tận Hiến hoặc đã gia nhập một hội đời sống tông đồ.

c/. Người đã kết hôn khi còn dây hôn phối (đ. 721§1).

Hiến pháp có thể ấn định những ngăn trở khác đối với việc thâu nhận, cả về phương diện thành sự, hoặc đặt thêm những điều kiện (đ. 721§2).

Ngoài ra, những người được thâu nhận phải có sự trưởng thành cần thiết. Lý do: vì những khó khăn đặc biệt của cách sống tận hiến này, nên cần có những đòi hỏi gắt gao hơn về sự trưởng thành, hơn cả đối với việc bước vào đời sống tu sĩ (đ. 721§3).

– Tuổi trưởng thành theo pháp luật là 18 tuổi trọn thay vì 17 tuổi, tức là cao hơn ứng viên vào dòng tu (đ. 721§1).

– Bắt buộc thời kỳ thử ít là 03 năm (đ. 722§3), dài hơn thời kỳ tập tu theo Giáo luật là 01 năm.

– Thời gian gia nhập tạm ít là 05 năm (đ. 723§2), dài hơn đối với tu sĩ (05 năm thay vì 03 năm). Luật riêng của mỗi Tu Hội cũng không được ấn định thời gian này dài quá 10 năm.

Đối với các Tu Hội Đời, người ta không đề cập tới “tuyên khấn”, nhưng nói là “gia nhập”, trước là tạm, rồi trọn đời, hoặc “dứt khoát” (đ. 723§2,3,4). Thay vì “lời khấn”, người ta dùng danh từ rộng hơn “các ràng buộc thánh” (đ. 712, 713§1 và 724§1).

Đây cũng có thể là những lời khấn – không như các tu sĩ – nhưng cũng có thể là những cách dấn thân khác: quyết tâm, lời hứa,.v.v… vì các ràng buộc này có tính chất “thánh” nên được dâng lên Thiên Chúa.

Ngoài những phần tử thực thụ, các Tu Hội Đời cũng được phép kết nạp “những tín hữu ước mong đạt tới sự trọn lành Phúc Âm” dựa theo tinh thần của Tu Hội và tham gia vào sứ mạng của Tu Hội (đ. 725). Nói khác đi, các Tu Hội Đời cũng có thể thâu nhận “hội viên dòng ba” giống như các dòng tu. Các tín hữu được kết nạp như thế, không phải là những thành viên theo nghĩa chặt, vì họ cam kết giữ các lời khuyên Phúc Âm. Có thể coi họ là những thành viên theo nghĩa rộng.

2. Đào tạo (huấn luyện)

a/. Kỳ thử đầu

– Phải tổ chức sao cho các ứng viên hiểu rõ hơn ơn thiên triệu của họ, ơn gọi riêng của Tu Hội, và để họ được đào tạo theo tinh thần và lối sống của Tu Hội (đ. 722§1).

– Các ứng viên phải được đào tạo đúng cách để sống một cuộc đời theo lời khuyên Phúc Âm, và hiến cả cuộc đời vào việc tông đồ bằng cách sử dụng những hình thức rao giảng Phúc Âm thích ứng hơn với mục đích, tinh thần và đặc tính của Tu Hội (đ. 722§2).

– Các hiến pháp phải ấn định các thể thức của việc thử này và thời gian thử (đ. 722§3).

– Hết thời gian thử, ứng viên nào được nhận xét là xứng hợp, phải tuân giữ ba lời khuyên Phúc Âm, được đóng ấn bằng một sự ràng buộc thánh, nếu không, người đó sẽ rời bỏ Tu Hội (đ. 723§1).

b/. Kỳ gia nhập tạm

– Theo hiến pháp, sự gia nhập lần đầu sẽ tạm thời, và sẽ kéo dài ít là 5 năm (đ. 723§2).

– Hết thời gian gia nhập này, thành viên nào được xét là xứng hợp sẽ được nhận cho gia nhập trọn đời hay dứt khoát, bằng những ràng buộc tạm thời phải được lập lại mãi (đ. 723§3).

c/. Kỳ gia nhập dứt khoát

– Được coi là ngang bằng với sự gia nhập trọn đời xét về một số hiệu quả pháp lý cần được xác định trong hiến pháp (đ. 723§4).

– Sau khi các ràng buộc thánh đầu tiên đã được kết ước, việc đào tạo phải được liên tục kéo dài theo hiến pháp (đ. 724§1).

Các thành viên phải được đào tạo một trật cả về đạo lẫn đời (kiến thức tôn giáo và nhân bản). Các vị điều hành Tu Hội phải nghiêm chỉnh chăm lo cho các thành viên được đào tạo thường xuyên về đường thiêng liêng (đ. 724§2).

VIII. Rời Bỏ Tu Hội

Về bản chất, các điều kiện về việc ra khỏi Tu Hội Đời cũng giống như ra khỏi Tu Hội Dòng.

1/. Hết thời gian gia nhập tạm, thành viên có thể tự do rời bỏ Tu Hội, hoặc bị loại ra, không được lặp lại những ràng buộc thánh vì những lý do chính đáng, bởi bề trên cao cấp sau khi tham khảo ý kiến ban cố vấn (đ. 726§1).

2/. Thành viên đã được gia nhập tạm: nếu tự ý xin vì lý do quan trọng, có thể được vị điều hành tổng quyền với sự đồng ý của ban cố vấn, cho phép rời khỏi Tu Hội (đ. 726§2).

3/. Thành viên đã gia nhập vĩnh viễn: muốn ra khỏi Tu Hội, sau khi đã cân nhắc kỹ và chín chắn trước mặt Chúa, người ấy sẽ xin Tòa Thánh, thông qua vị điều hành tổng quyền, ra khỏi Tu Hội, nếu là Tu Hội thuộc giáo hoàng, hoặc xin Giám mục giáo phận, như được ấn định trong hiến pháp (đ. 727§1).

4/. Nếu là giáo sĩ: phải giữ các qui định của điều 693 (đ. 727§2).

5/. Thành viên bị thải hồi: Thành viên bị loại khỏi Tu Hội, chiếu theo các điều 694 và 695. Ngoài ra, hiến pháp sẽ ấn định những lý do thải hồi khác, nghĩa là những lý do tương đối nghiêm trọng có thể buộc tội và được chứng minh theo pháp luật, và phải giữ các thủ tục (thể thức tiến hành) được ấn định trong các điều 677-700. Đối với thành viên bị thải hồi, sẽ áp dụng các qui định của điều 701 (đ. 729).

6/. Hậu quả: khi đã được phép riêng hợp pháp ra khỏi Tu Hội, thì chấm dứt hết mọi ràng buộc cũng như các quyền lợi và nghĩa vụ do việc gia nhập (đ. 728).

7/. Chuyển sang Tu Hội khác

– Từ một Tu Hội Đời sang một Tu Hội Đời khác, phải giữ những qui định của các điều 684§1,2,4 và điều 685.

– Sang một Tu Hội Dòng hay một hội đời sống tông đồ, ngược lại, từ một Tu Hội Dòng hay hội tông đồ sang một Tu Hội Đời, buộc phải có phép Tòa Thánh và phải tuân theo các chỉ thị của Tòa Thánh (đ. 730).

Nguồn:https://catechesis.net/giai-thich-bo-giao-luat-quyen-ii-dan-thien-chua-cac-tu-hoi-doi-va-hoi-doi-song-tong-do-4/